Từ không gian giao tiếp đến không gian nhân văn – con đường đi của đô thị Việt Nam (phần 1)

Về một đô thị Nhân Văn

Nhân văn là một trong tiêu chí cao nhất của chất lượng sống đô thị. Trong một thời gian dài, người ta hướng phát triển đô thị đến mục tiêu là có nhiều nhà chọc trời, kỹ thuật tân kỳ, dịch vụ hoàn hảo và tăng trưởng kinh tế nóng trên hai con số, còn mỗi gia đình phấn đấu sao cho giàu có hơn, tiện nghi hơn. Nhưng những năm gần đây người ta nhận ra hình như đấy không phải là mục tiêu cao nhất và cuối cùng của con người. Một thành phố giàu có, tân kỳ nhưng con người luôn cảm thấy không an toàn, phải chịu áp lực nặng nề, rủi ro luôn rình rập, con người luôn cảm thấy cô đơn như trong hoang mạc thì mọi sự giàu có trở nên vô nghĩa.

Đô thị được thiết kế với nhiều hơn những mảng xanh (Nguồn ảnh: Internet)

Các quốc gia phát triển đang tư duy lại về việc phát triển đô thị. Các nước châu Âu, Bắc Mỹ đang quay trở về thời xa xưa của mình đó là mô hình thành phố nhỏ, ít dân, nhiều màu xanh, sống cởi mở và thân thiện. Còn các quốc gia chậm phát triển ở châu Á đang tiến hành đô thị hóa sau cũng nhận ra rằng nếu cứ chạy theo tiêu chí nhà chọc trời, kỹ thuật hiện đại để bắt kịp các nước châu Âu và bắc Mỹ thì qủa thật đây là cuộc rượt đuổi vô vọng. Do vậy các nước đô thị hóa sau cũng cố gắng đi tìm một mô thức khác của sự phát triển đô thị. Ðó là ít giàu hơn, nhưng nhân văn hơn.?

Ðô thị nhân văn là một đô thị mà con người sống trong một môi trường bình đẳng, thân thiện, tự do, an toàn, hài hòa và ấm áp. Chính vì thế con người trong đô thị hiện đại rất cần có các không gian công cộng nhưng không chỉ là không gian giao tiếp xã hội mang tính xã giao mà còn cố gắng đạt đến một không gian tràn đầy tính nhân văn. Trung Quốc là một trong số các nước đi đầu theo khuynh hướng này. Chính Trung Quốc là quốc gia đầu tiên khởi xướng cho một hệ thang đo mới về chất lượng sống đô thị theo hướng này và được nhiều quốc gia ủng hộ trong đó có Việt Nam. Hệ thang đo này có 42 tiêu chí, trong đó tiêu chí 27 là “mảng xanh và không gian công cộng tính trên đầu người”

Lý do nào mà con người đô thị hiện đại cần đến các không gian giao tiếp

Con người của các đô thị hiện đại dường như là chuyển động lướt qua bên cạnh nhau nhiều hơn đứng bên nhau để thân thiện chia sẻ với nhau. Ðó là một thực tế. Hãy nói chuyện với tôi (talk to me) là một khát khao không chỉ của người già cô đơn mà ngay cả với những thanh niên sôi nổi, tràn đầy sức sống. Xã hội càng hiện đại con người ta càng trở nên cô đơn và nhỏ bé. Một vài nguyên nhân có thể cảm nhận được:

– Bản thân đô thị là một hệ thống cứng, các nhà thiết kế đô thị đã tạo ra một thành phố với các nguyên tắc của hình học và chia nhỏ thành phố bởi các vách ngăn bằng bê-tông, xi-măng, kính ngăn cách con người. Một thành phố nếu bỏ đi toàn bộ các nóc nhà thì phần còn lại là những cái hộp không khác gì tổ tò vò. Có lý khi nói rằng phần lớn đời sống của người dân đô thị là diễn ra trong những cái hộp và xê dịch từ cái hộp này tới cái hộp khác.

– Ðô thị có hệ thống dịch vụ ngày một hoàn thiện, chính điều này đã tước đi cái bản chất của khái niệm “chia xẻ”. Nếu trong xã hội nông nghiệp, người ta phải dựa vào nhau để tồn tại trên tinh thần “thương người như thể thương thân”, “tối lửa tắt đèn có nhau”, “chị ngã, em nâng” thì sang xã hội đô thị người ta chủ yếu dựa vào dịch vụ. Dịch vụ tốt là một mục tiêu của xã hội hiện? đại, thiếu tiền đến ngân hàng, ốm đau đến bệnh viện, ma chay cưới hỏi thuê dịch vụ. Vô hình chung, dịch vụ hoàn hảo làm triệt tiêu dần quan hệ cộng đồng.

– Công nghệ và kỹ thuật đô thị ngày một hiện đại, nhờ công nghệ mới này cuộc sống con người dễ dàng hơn, nhưng làm cho khoảng cách tâm lý -xã hội lớn hơn. Ðiện thoại, internet là những ví dụ sống động cho việc con người thực hiện hàng trăm cuộc giao tiếp trong một ngày cho dù đó là trực tuyến (online) nhưng gặp gỡ lại ít đi. Cũng do sự hoàn hảo của công nghệ và kỹ thuật mà con người có thể thực hiện được các yêu cầu cá nhân mà không phải ra khỏi nhà hay căn phòng như mua hàng, trả phí dịch vụ, đóng thuế, thậm chí là học hành. Có người nói ở các nước phát triển người ta thấy nhau trên Tivi nhiều hơn là ngoài đời, có lẽ do vậy mà ở các nước phát triển cao mỗi năm có một ngày không tivi và một ngày không sử dụng điện thoại.

Công nghệ giúp tăng cường kết nối (ảo) trong các thành phố (Nguồn ảnh: Internet)

– Cá nhân hóa tăng cao và cộng đồng giảm xuống. Ở đô thị người ta đặt cá nhân cao hơn cộng đồng do cuộc sống đô thị làm cho người phải lựa chọn sao cho có lợi cho bản thân, trong khi tài chính, thời gian luôn là hạn chế. Trong nhiều trường hợp, cá nhân hoá bị đẩy đến mức cực đoan thành chủ nghĩ cá nhân ích kỷ và vị kỷ.

– Trong xã hội đô thị quan hệ con người ít sống trong nhóm sơ cấp (primary group) mà sống và làm việc phổ biến là ở trong nhóm cấp hai (secondary group). Tức là người ta quan hệ với nhau theo công việc và hoạt động chủ yếu trong nhóm chức nghiệp, vai trò của nhóm cấp một (gia đình, công đồng cư trú, thân tộc) bị giảm sút đi. Ngay từ những năm 1950, nhà xã hội học người Ðức là Ferdinand Tonnies cũng đã chỉ ra rằng trong xã hội công nghiệp thì nhóm cấp 1 sẽ bị suy yếu đi rõ rệt về chức năng và lỏng lẻo về cấu trúc, trong khi nhóm cấp 2 sẽ trở nên phổ biến và phát triển mạnh hơn.

Về điều này GS. Ðỗ Thái Ðồng có nói: “Ðặc điểm trước hết của xã hội đô thị là các quan hệ chức năng lấn át các quan hệ nguyên thủy. Các quan hệ nguyên thủy như quan hệ thân tộc, quan hệ láng giềng, quan hệ quen biết giữa các cá nhân. Chúng có vai trò rất lớn ở các xã hội nông thôn nhưng ở đô thị, chúng hầu như mất đi vai trò điều chỉnh đời sống cá nhân hoặc nếu có cũng rất suy yếu. Thay vào đó là các quan hệ chức năng với sự phân công rất chi tiết mọi mặt của lao động và? dịch vụ. Mọi người phải trông cậy vào hệ thống chức năng ấy để sống và làm việc. Do đó, xã hội đô thị là một xã hội chuyên môn hóa cao độ với các quan hệ phi cá nhân. Các định chế chức năng phải bao trùm mọi mặt của đời sống từ ăn, ở, đi lại, vệ sinh, chữa bệnh, học hành, an ninh trật tự.v.v..”

Trước một xã hội như thế, người ta nhận thấy phải làm sao cho con người đô thị sống với nhau gần gũi hơn và thân thiện hơn. Sự lãnh lẽo và vô cảm sẽ làm cho con người không được lành mạnh về tinh thần, cộng thêm vào đó là sức ép đô thị (ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông, tội phạm, việc làm không ổn định, rủi ro, cạnh tranh gay gắt) làm cho con người sống lâu hơn, nhưng mệt mỏi hơn.

Không gian giao tiếp công cộng chính là phần mềm trong một hệ thống đô thị cứng. Một thành phố sẽ trở nên ngột ngạt khó thở khi không có những không gian rỗng giữa những khối nhà đông đặc, tầm mắt con người sẽ bị tù túng trong các rừng beton xám xịt, sự hiểu biết con người sẽ bị giam cầm trong các khối vật chất vô hồn và tình cảm con người trở nên vô cảm, nhạt nhẽo trong các bức tường.

Do vậy việc tạo ra các không gian giao tiếp là vô cùng cần thiết. Ðó chính là một tiêu chí quan trọng của đô thị nhân văn.

Các cấp độ của không gian giao tiếp công cộng

Ðể xác định chính xác về không gian giao tiếp công cộng là điều không dễ, bởi tính chất đa dạng của khái niệm này. Không gian giao tiếp công cộng có thể là các quảng trường lớn, sân vận động, công viên do quốc gia hay thành phố quản lý, một ngôi chùa, một nhà thờ của cộng đồng, nhưng nó cũng có thể chỉ là những vườn dạo nho nhỏ ở khu dân cư, một khoảng sân nhỏ giữa hai block chung cư, thậm chí chỉ là những ghế đá đặt trên vỉa hè. Trong nhiều trường hợp thì quán cắt tóc vỉa hè, quán cà phê cóc, chợ chồm hổm cũng được coi là nơi giao tiếp công cộng, miễn nơi đó là tụ điểm cho mọi người thích đến để gặp gỡ nhau trò chuyện, chia sẻ mọi nỗi vui buồn thường ngày.

Link bài gốc: https://tailieu.vn/doc/tu-khong-gian-giao-tiep-den-khong-gian-nhan-van-con-duong-di-cua-do-thi-viet-nam-2033803.html

PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc TT nghiên cứu phát triển đô thị và Cộng Ðồng

HOMEVINA GROUP
☎️Hotline: 083 888 885